| |
CHUYÊN ĐỀ: SÁCH ĐỎ NHỮNG GIÁ TRỊ VĂN HÓA VIỆT NAM
*
"Mỗi di sản mất đi, mất đi một phần tâm hồn dân tộc"
* Lời những chiếc cổng phong rêu
* Nghệ nhân lãng du
* Tiếng chiêng đàn bà
* Công khai cổ vật để bảo vệ
* Thờ ơ với di sản văn hóa hán nôm
* Khảo cổ hay "chôn vùi" di sản?
* "Ai Man Pây" - người lưu giữ Kho tàng di
sản chữa bệnh cổ truyền
* Niềm đam mê không già
* Những di sản sắp mất
* Làm sống lại chứ không chỉ dựng lại. |
PHÓNG SỰ - BÚT KÝ
*
Phóng sự "Đợi sáng ở Mù Cả" của Đỗ
Doãn Hoàng.
* Bút ký "Cung thanh bên bờ Mêkông" của
Vĩnh Quyền & "Đường về tuyết sơn" của võ
sư Nguyễn Văn Dũng. |
TRANG THƠ
*
Ước vọng mùa xuân 2006 - Hoàng Cầm |
SÁNG TÁC
*
Về đi, cún con ơi - truyện ngắn của Bùi Việt Sỹ. |
Đêm giao thừa kỳ lạ
Nhà
văn Lâm Quang Ngọc kể lại hồi ức về những phóng viên chiến
trường (Nguyễn Văn Giá và Phạm Ngọc Chưng). |
Lòng quyết tâm còn cao hơn núi
Nhà
ngôn ngữ học, dịch giả nổi tiếng Cao Xuân Hạo nhiều năm nay qua
các công trình nghiên cứu, các bài viết trên báo chí đã bày tỏ
nỗi lo lắng về tình trạng nói sai và viết sai tiếng Việt. |
Tâm sự đêm giao thừa
Tết
này Báo Lao Động mời nhạc sĩ Phạm Duy viết vài dòng về những
ngày tháng gặp gỡ và chơi với nhà thờ Hoàng Cầm. |
Sau
365 ngày tôi vẫn tiếp tục THỞ
Không
phải ngẫu nhiên mà hoạ sĩ Chu Hùng Sơn, hoạ sĩ Đỗ Phấn và tôi -
nhà báo Y Trang - đều chọn Nguyễn Thanh Hoa.
|
Môđiphê kiểu Trương Ngọc Ánh
Trương
Ngọc Ánh
môđiphê từ trên sàn diễn thời trang, khi đóng phim, nấu ăn, đến
dọn nhà, cắm hoa đón Tết... Tất nhiên sự môđiphê của Ánh đều có
chừng có mực...
|
Chu Thượng viết Sự kiện
Chu
Thượng thuộc loại "cây đa cây đề" của làng báo. Đầu những năm 90
của thế kỷ trước, Lao Động "nóng đùng đùng" với những bài điều
tra gai góc của Nguyễn An Định (tên khai sinh của ông). |
Ngọn gió lành và cánh chim bay...
Bùi
Việt Phong - không chỉ vì cái tên - anh đúng là một cơn gió.
Trong cuộc đời phần lớn là tù túng, chật chội đến u buồn của
anh, của chúng tôi, đã có suốt một thời gian anh đã là và cố là
một cơn gió. |
Văn nghệ cười vui
Lẻ
năm nhưng chẵn kỳ, hàng vạn hội viên vui trảy... đại hội, tàu xe
"quấn áo chen chân", hội trường cờ hoa rực rỡ. Tất nhiên có phê
và tự phê thẳng thắn, kịch liệt gọi nhau bằng đủ mọi thứ. |
Về một bãi bờ sông Đáy
Những
ngày dằng dặc xa xứ, du học ở nước Nga xứ tuyết, PGS-TS Nguyễn
Thị Minh Thái thường nhớ về quê nội, ở một làng quê nhỏ bãi bờ
sông Đáy. |
Thời gian sao mà xuẩn ngốc
Đang
từ cái rét cắt da, trời chợt ấm lên nồng nàn. Vậy là xuân đấy ư.
Xuân đến thật lịch sự và đầy thương yêu. |
Xông nhà, chúc Tết sớm mai
Trong
một loạt các tổ hợp từ liên quan đến Tết thì việc chúc Tết có
một ý nghĩa văn hoá - phong tục rất sâu sắc, hàm chứa giá trị
nhân văn và tín ngưỡng dân gian. |
1 điểm đến - 2 di sản thế giới
Chương
trình Năm du lịch quốc gia 2006 "Quảng Nam: Một điểm đến - hai
di sản thế giới" có chủ đề "Di sản văn hoá, lễ hội dân gian,
làng nghề truyền thống và du lịch sinh thái". |
Tour độc
Khám phá
phố cổ bằng xe cổ.
Du lịch mạo hiểm cho người Việt.
Vòng quanh Việt Nam trong 79 ngày
Du lịch bằng xe trâu. |
Đi tìm một thương hiệu
Món
ăn Việt Nam ngày nay đã được biết đến trên toàn thế giới. Có thể
nói lúc đầu nó chỉ góp mặt ở nước Pháp - nơi có nhiều người Việt
định cư từ lâu. |
Không rề rà bày vẽ
Ít
cầu kỳ như miền Bắc, không thô mộc như miền Nam, ẩm thực miền
Trung có có phong vị thuần phác của người dân Nam Bộ lẫn sự tinh
tế của những cư dân ĐB sông Hồng, sông Mã. |
Nhật ký Hoa hậu thế giới
Trước
giờ phút nhận vương miện Hoa hậu thế giới 2005, cô sinh viên
ngành nhân chủng học 21 tuổi Unnur Birna Vilhjalmsdottir
(Iceland) đã nghĩ gì? |
Nữ hoàng sắc đẹp năm 2005
Họ
đến từ nhiều châu lục trên thế giới, khác nhau về màu da, màu
tóc... nhưng họ có cùng chung một điểm: Là nữ hoàng của những
cuộc thi sắc đẹp danh giá nhất thế giới. |
Hồ Gươm vốn là...
Hồ
Gươm trong mắt của hai nhà nhiếp ảnh trẻ Hoài Linh, Ngô Nhật
Hoàng, giản dị và gần gũi và đúng là Hồ Gươm như nó vốn là. |
|
|
|

Mẩu cười Xuân
Vợ:
"Tết nhất uống rượu công khai mà anh dùng cái vòi cao su để uống
rượu ư?". Chồng: "Bác sĩ dặn anh là phải tránh xa rượu".
Lê Hồng Dạ Thương
|
 |
|
|
»
» »
Miền Trung & Tây Nguyên
 |
KỶ
NIỆM 20 NĂM NGÀY MẤT XUÂN DIỆU (1985-2005)
Đọc lại Xuân Diệu
Thanh Thảo
Nhiều
lần tôi với Ngô Thế Oanh và Trung Trung Đỉnh lên nghĩa trang Mai
Dịch viếng mộ Văn Cao, Xuân Diệu, lần nào chúng tôi cũng nói với
nhau: chẳng biết ai là tác giả bức phù điêu chân dung Xuân Diệu tạc
trên bia mộ Ông, trông giống Xuân Diệu vô cùng nhưng... buồn quá.
Liệu khi còn sống Xuân Diệu có buồn đến thế không? Nhìn bức phù điêu
cứ như Ông đang khóc. "Giữa xã hội của đồng tiền lụ khụ - Đến nổi
thanh niên cũng thành ra cũ - Người ta thay tình ái tựa sơ mi - Như
sạch trong không còn giá trị gì" (Aragon và Elsa), những câu thơ ấy
Xuân Diệu viết từ năm 1962 cho xã hội phương Tây, bây giờ đọc lại
như thấy Ông đang viết về xã hội mình.
Có những câu thơ không cũ, và cùng với những khúc quanh của thời
gian, nó dường như mới lại. Dường như Xuân Diệu cũng có những bài
thơ dễ dãi, nhất là trong những năm 60, 70, nhưng ta thử đọc một
đoạn thơ đơn sơ này xem, viết vào năm 1962: “Một buổi chiều trong
bếp nấu cơm - Má đang lặt rau, lửa nhè nhẹ cháy - Một buổi chiều
trong vườn sạch lá - Đất còn mang dấu chổi quét ban mai" (Một buổi
chiều). Những câu thơ thơm mùi đất, mùi bếp lửa, mùi của yêu thương
có thể không bao giờ còn trở lại. Xuân Diệu có tập thơ mang tựa đề
"Gửi hương cho gió", thì những câu thơ như vừa trích chính là mùi
hương của thơ Ông, "hoa bưởi thơm rồi, đêm đã khuya" , nó nhẹ nhàng
mà khiến ta day dứt, nó đọng lại đâu đó trong ta khi gió đã ngừng và
những ồn ào đã bặt.
Xuân Diệu có thể viết những bài thơ lộng lẫy, ngân vang như "Nguyệt
Cầm", lại có thể viết những bài thơ giản dị như lời ăn tiếng nói
hàng ngày. Ông là một trong những nhà thơ Việt có ý thức làm thơ
"như nói" từ khá sớm: "Theo ý má, con là hơn tất cả/ Ánh mặt trời,
má cũng gửi vào con/ Bánh con cho, má để dành lại đã/ Con ăn cùng,
má mới thấy quà ngon/" (Thơ tặng má). Những ngắt nhịp của đoạn thơ
khiến người đọc cảm thấy như tác giả đang một mình trò chuyện với mẹ
mình, trong im lặng.
Còn đây là một ngắt nhịp khác, như tiếng kêu thốt hồn nhiên của
những đứa trẻ, trong bài "Cho chú xin một quả si" - "Mấy cháu trai
cầm những nhành lá mượt tươi/ Điểm những trái nhỏ, vàng, tròn, chín,
mập/ Một cháu hãy còn ngửa đầu tiếp tục/ Nhón gót lên với bẻ những
cành la...".
Đó cũng là sự kín đáo của kỹ thuật "thơ vắt dòng" mà bây giờ một số
người đang khuếch trương. Xuân Diệu, ngay từ thời Thơ Mới, đã có ý
thức du nhập "kỹ thuật" thơ phương Tây, đến nỗi nhiều người kêu Ông
làm thơ "Tây quá". Thực ra, nếu chỉ đơn thuần dùng kỹ thuật thơ
phương Tây, dù là kỹ thuật tân kỳ, Xuân Diệu cũng không thể chinh
phục được người đọc như Ông đã chinh phục. Chính hồn Việt, hồn
Phương Đông, ngất ngây trong đạm bạc, giàu có trong tiết giản đã
khiến thơ Xuân Diệu được người Việt yêu thích. Và sự chân thành đến
tận cùng, đến không sợ những câu chữ có thể bị coi là ngây ngô, đã
khiến thơ Xuân Diệu đặc biệt gần gũi với đời thường.
Dĩ nhiên, đi như cách Ông đã đi trong thơ "đời thường" là đi trên
dây, quá một chút sẽ hoá văn xuôi, còn non một chút thì đó là thơ có
vần chưa tới. Xuân Diệu, trong rất nhiều bài thơ của mình, đã giữ
được sự thăng bằng động ấy, như một nghệ sĩ đích thực. Vâng, một
nghệ sĩ đích thực là người thường phải "đi trên dây" trong những tác
phẩm của mình. Sự chênh vênh, bập bênh của ngôn ngữ được thể hiện
trong tác phẩm lại cũng là một thước đo để người ta đánh giá tài
năng của một nghệ sĩ ngôn từ.
Từng là người làm thơ với "ngôn từ đẹp", Xuân Diệu đã tìm đến cái
đẹp ẩn khuất của những từ ngữ bình thường, những ngôn từ sù sì và
"không đẹp" nếu ta dùng thước cũ để đo. Bài thơ "Đêm ở Thái Bình" đã
khiến không ít người phải ngạc nhiên: "Những cây xoan Thái Bình nói
gì trên ngọn?/ Gió thổi qua biển về thổi qua đồng/ Và thổi trên
trời: ba mênh mông / Lại cả rằm trăng mây giăng nhẹ khuất/ Sẫm thấp
chuối chen những tàu rộng mát/ Mấy thân cau, vài dăm bụi tre cao/
Vạn tiếng côn trùng trong đất xôn xao/ Một mặt ao cây vối nghiêng
sát nước/ Thỉnh thoảng ếch kêu trội hơn tiếng khác/ Nhất là chó sủa
văng vẳng hay hay". Thế cũng là thơ ư? "Nhất là chó sủa văng vẳng
hay hay" là một câu thơ ư? Hồi ấy người ta
hỏi nhau vậy. Bây giờ, khi thơ đã tự giải phóng cho mình bao ràng
buộc, đọc lại đoạn thơ này, tôi càng cảm phục Xuân Diệu: Ông đã đi
một bước trước. Quả thật, đó là những câu thơ tuyệt hay. Và hiện
đại.
Là người có kiến văn rất rộng, và rất nhạy cảm, Xuân Diệu đã cùng
lúc cho thơ mình chạy trên hai đường băng ấy. Không phải ai cũng
phối hợp được sức đọc và sức cảm để có những tác phẩm đầy cá tính.
Xuân Diệu là người suốt đời khao khát, suốt đời thiếu hụt. Tôi đã
không ít lần được ngắm nhìn Xuân Diệu... ăn. Ông ăn ngon lành và mê
say như thể không biết còn được ăn một lần nữa không. Bây giờ thì
tôi hiểu: Ông "đói" đời sống, cái đời sống cụ thể, tươi mởn, tràn
trề, sinh động kia, Ông "vội vàng" vì bị cái cảm thức "trôi qua" đe
dọa. Chính từ cái chênh vênh giữa tồn tại và hư mất ấy, mà Ông làm
thơ. Một quả sấu một quả si hay một quả táo với Ông là cả "một khối
hồng". Khối hồng ấy chính là đời sống. "Có lẽ mùa xuân líu lưỡi tôi/
Lời dâu tôi nói chửa nên lời/ Dâu vừa mơn mởn, vừa xa thẳm/ Vừa lá
long lanh,hom mát tươi/" ( Trên bãi sông Hồng). Bãi dâu ấy với Xuân
Diệu cũng chính là đời sống.
Ông là một trong những nhà thơ ngợi ca đời sống tuyệt vời nhất không
chỉ của thơ ca Việt Nam. "Thèm đời sống" là cái thèm đặc trưng trong
thơ Xuân Diệu. Có lẽ nên đọc Ông bắt đầu từ đó. "Cay sống mũi như là
ăn rau cải" (Lệ). Tôi chưa thấy ai có một so sánh đột ngột như thế,
cái cảm giác "cay sống mũi" lúc muốn khóc lâm li hơn cái cảm giác
"cay sống mũi" khi ăn rau cải cay hay mù tạt chứ ạ! Thơ Xuân Diệu đã
vượt qua sự "lâm li" truyền thống ấy để nói với ta một điều: cảm
giác là cảm giác. Và khi là cảm giác về đời sống, của đời sống thì
tất cả đều có thể tương đồng. Dường như Apollinaire cũng đã ngợi ca
một cảm giác như thế.
Quảng Ngãi, kỷ
niệm 20 năm
ngày Xuân Diệu vĩnh biệt đời sống này.

|
|