CHUYÊN ĐỀ: SÁCH ĐỎ NHỮNG GIÁ TRỊ VĂN HÓA VIỆT NAM
“Mỗi di sản mất đi, mất
đi một phần tâm hồn dân tộc”
Phương Duy
Phỏng vấn GS-TS Tô Ngọc Thanh - Chủ tịch Hội Văn nghệ dân gian
Việt Nam.
Thưa
ông, ông có cho rằng nếu ta tiến hành lập một hồ sơ "Sách đỏ những giá trị văn
hoá VN" thì với thực tế như hiện nay, số trang của hồ sơ ấy sẽ ngày càng bị tăng
nhanh chóng?
- Cái đó còn phải tuỳ quan niệm của những người lập "hồ sơ" đó. Bởi như
nhiều di sản người ta nói là đang còn, đang phát huy rất tốt, nhưng theo quan
niệm của tôi lại là đang bị suy thoái, thậm chí đã mất đi. Ví dụ như chèo cổ. Ta
vẫn thấy có chèo trên truyền hình, hội diễn hay thậm chí là một số sàn diễn.
Nhưng tất cả đều là chèo cải tiến, cải biên. Ngay cả xem những vở tích chèo cổ
nhưng cũng không còn thấy cái nghệ thuật chèo cổ đúng nghĩa ở đó nữa. Tình trạng
đó cũng tái diễn các loại hình nghệ thuật cổ truyền khác như múa rối nước,
tuồng, quan họ v.v...
Có nghĩa là ông không chấp nhận việc "cải tiến, cải biên" những giá trị cổ
truyền để nó thích nghi với cuộc sống hiện đại?
- Đương nhiên không phải vậy. Như vậy thì quá cực đoan, bảo thủ. Cuộc
sống luôn vận động, không có xã hội nào không có sự đổi thay. Nhiều cái ở thời
đại này có thể là một giá trị phổ cập, nhưng đến thời đại sau lại không thể
không có sự biến đổi, thậm chí là mất đi. Nhưng với di sản văn hoá, ta phải có 2
lối ứng xử rõ ràng: 1. Bảo tồn và phát huy (Giữ nguyên di sản như chính nó, để
lưu giữ nguyên trạng một dấu tích của lịch sử, và phát huy giá trị cua nó trong
cuộc sống hôm nay). Ví dụ như cung điện Huế, dù có trùng tu bao nhiêu lần thì
vẫn phải giữ nguyên nó như xưa.
Còn nếu nhân danh thị hiếu, thẩm mỹ thời đại đã thay đổi mà đem mái bằng, mái
tôn thay cho mái ngói cong của Ngọ Môn thì liệu có còn giữ được giá trị của kinh
thành Huế hay không? 2. Thừa kế và phát triển (cải biên, cải tiến di sản cho phù
hợp với nhu cầu của cuộc sống hiện tại). Hai lối ứng xử này phải song song tồn
tại, chứ như hiện nay, ta chỉ chú trọng vế thứ hai mà quên đi vế thứ nhất, nên
làm méo mó di sản và nhận thức của công chúng về di sản.
Ông nhìn nhận thế nào trước ảnh hưởng của những
mất mát về di sản đối với xã hội hiện đại?
- Một di sản mất đi, ta không chỉ mất đi một thứ gia sản cụ thể của cha
ông, mà còn hơn thế rất nhiều. Cái mất lớn nhất là mất đi một phần bản sắc - cái
giúp ta hiểu ta là ai, giúp ta tự tin, tự trọng. Ta cũng bị mất đi một phần
phong phú của văn hoá dân tộc. Ví dụ như vấn đề ma chay, cưới hỏi theo lối "đời
sống mới", tôi nghĩ không nên áp đặt nó một cách đại trà, vì trước đây 54 dân
tộc của ta có ít nhất là 54 lối ma chay cưới hỏi khác nhau, thì nay có nguy cơ
sẽ chỉ còn một nếu nơi nơi phát động theo một lối.
Ma chay cưới hỏi lối "đời sống mới" cũng rất hay, tôi không phản đối, nhưng hãy
để người dân được tự do lựa chọn hình thức phù hợp với hoàn cảnh của họ. Hay hãy
nhìn một tháp Rùa rêu phong đã bị sơn "như mới", một hồ Gươm mơ màng bị gắn
những cây đèn điện cao ngất ngưởng toé xanh toé đỏ của Trung Quốc, một hồ Thiền
Quang huyền ảo bị kè ximăng thô kệch... mới hiểu chúng ta đã "vô hồn" hoá cái
hồn của di sản đến thế nào!
Thưa ông, nhưng ông sẽ đưa ra giải pháp nào khi chính những người nông dân
muốn thay mái gianh bằng mái bằng, những người dân miền núi ao ước có được cái
nhà mái tôn như một dấu hiệu của sự đổi đời, giàu có?
- Họ như vậy là bởi họ đã được giáo dục rằng đó mới là biểu hiện của xã
hội văn minh, hiện đại, và bởi vì một môi trường thẩm mỹ đã bị phá vỡ tính hài
hoà, đã bị thô sơ hoá. Nhưng tôi tin những giá trị vĩnh truyền sẽ qua mờ lại tỏ.
Nhưng cần nhất vẫn phải là một lối "làm văn hoá" khác, một cơ chế khác cho văn
hoá. Tại sao Hội An giữ được nhà cổ? Bởi vì người dân đã ý thức được rằng giữ
nó, họ được hưởng lợi nhiều hơn rất nhiều là nếu phá nó đi.
Di sản, ngoài những giá trị tinh thần vô giá còn có những giá trị thực
tiễn rất hiệu quả?
- Xin đơn cử lĩnh vực các bài thuốc y học. Chúng ta đã làm thất truyền
bao nhiêu bài thuốc đúc kết từ kinh nghiệm nghìn đời của ông cha, trong đó thậm
chí có những công dụng mà đến giờ y học hiện đại mới vừa đạt đến được, hoặc lời
giải cho các bệnh nan y đến giờ y học hiện đại còn bó tay? Hội Văn nghệ dân gian
chúng tôi nhận được rất nhiều bài thuốc dân gian người dân gửi đến xin thẩm
định, nhưng hội tôi làm sao có đủ lực làm được việc ấy?
Hay tôi được biết một vị tiến sĩ đã có nhiều công trình nghiên cứu công phu về
những bài thuốc được chế biến từ củ nghệ, trong đó có loại có khả năng chữa được
bệnh ung thư, nhưng những công trình nghiên cứu ấy đến nay vẫn chưa có ai thẩm
định. Hay như với ngành du lịch, một khi ta làm mất đi sự hấp dẫn đặc thù của di
sản, liệu có thể thực hiện được khẩu hiệu "Việt Nam - điểm đến của thiên niên kỷ
mới"?
Ông có thể "bốc một bài thuốc" ngõ hầu cứu chữa được cho tình trạng này
của di sản?
- Cá nhân tôi thì chịu, tôi chỉ là một nhà nghiên cứu, một người yêu di sản. Năm
nay tôi đã ngoài 70 tuổi, cả đời không ngừng gắn bó, không ngừng kêu cứu cho di
sản. Nhưng nói mãi thì cũng vậy thôi. Thuốc thì đã có rồi đấy: "Chính trị-kinh
tế-văn hoá, trong đó lấy văn hoá làm nền tảng phát triển" - đó là con đường Nghị
quyết Trung ương Đảng đã vạch ra. Ta cứ làm đúng như vây sẽ là quá tốt rồi,
nhưng để làm được như vậy cũng còn cần nhiều thời gian lắm.
Xin cảm ơn ông

|