"Tâm sự đêm giao thừa" và tình bạn của tôi
với Hoàng Cầm
Nhạc
sĩ Phạm Duy
Sau một thời gian là đoàn viên của
Đoàn Văn nghệ Giải phóng Trung ương do Phạm Văn Đôn điều khiển, đi
lưu diễn ở khắp vùng thượng du Việt Bắc, một ngày cuối thu 1947, tôi
từ biệt đoàn này và tới vùng Bắc Giang, đầu quân vào Đoàn Văn nghệ
của Khu 12. Ở đó, tôi gặp Hoàng Cầm.
Lúc đó, những bài dân ca mới như Nương chiều, Nhớ người ra đi và
những hành khúc như Rừng Lạng Sơn, Bông lau rừng xanh pha máu của
tôi đã được soạn ra cho nhu cầu sân khấu và những bài thơ hùng tráng
như Đêm liên hoan, Bên kia sông Đuống, Tâm sự đêm giao thừa của
Hoàng Cầm cũng đã ra đời để đêm đêm nhà thơ và tôi diễn ngâm trên
sân đình hay trên sườn đồi, trong sân chùa hay trong hang đá, dưới
ánh đuốc lập lòe và huyền ảo...
 |
|
Hoàng Cầm (trái) và Phạm Duy cuối những năm 1940. |
Ngoài những bài thơ soạn cho riêng tập thể chiến sĩ, lúc đó tôi đã
đưa vào loại dân ca kháng chiến những hình ảnh anh thương binh,
người mẹ già, người vợ hiền, đàn trẻ nhỏ... Hoàng Cầm, qua bài Bên
kia sông Đuống cũng đưa ra một cách tuyệt vời những hình ảnh cô hàng
xén răng đen, môi cắn chỉ quết trầu, cụ già phơ phơ tóc trắng, em bé
sột soạt quần nâu... Những nhân vật đó lại càng nổi bật hơn lên khi
được đặt vào khung cảnh tuyệt vời của miền Kinh Bắc hiển hách đó.
Vào khoảng đầu năm dương lịch 1948 tức là sắp sửa tới Tết âm lịch,
trong chiến dịch thi đua lập chiến công, Hoàng Cầm sáng tác một bài
thơ nhan đề Tâm sự đêm giao thừa mà tôi cho là tuyệt tác. Anh đưa ra
hình ảnh một người lính giữ nước, đang đứng gác trong một khu rừng
vắng, giữa đêm giao thừa :
Đêm nay hết một năm/ Phải gác tới giao thừa/ Quê hương chừng lạnh
lắm/ Lất phất mấy hàng mưa...
Anh Vệ quốc quân này có một người vợ vừa sinh được một mụn con --
Hoàng Cầm đưa ra hình ảnh của người vợ lính vì liên tưởng tới vợ
mình -- Người vợ lính đang phải sống lần hồi với một quán hàng trong
một khu chợ nhỏ. Quán vắng khách, người thiếu phụ thiếu ăn, chắc
không đủ sữa cho con bú.
Tôi có người vợ nghèo
Đời vất vả gieo neo
Từ ngày chồng ra lính
Nhà tranh bóng hắt hiu
Lần hồi rau cháo dăm phiên chợ
Ngực lép
thân gầy quán vắng teo
Một ngày bốn năm bữa
Con khóc chừng đứt
hơi
Sực tìm vú mẹ không còn sữa
Há miệng uống no dòng lệ rơi…
Vì đêm nay là đêm giao thừa và theo thông lệ, dù trong hoàn cảnh
chiến tranh, người lính biên thùy (cũng như chàng thi sĩ) muốn có
một cái quà gì để gửi về hậu phương cho vợ con nghèo đói.
Đêm nay Xuân sắp tới/ Quê nhà ai héo hon/ Vợ tản cư đâu đó/ Mừng
tuổi gì cho con?
Nhưng chiến sĩ Việt Nam nghèo lắm cho nên chỉ có thể gửi cho vợ con
một cái quà qúy giá nhất là sự lập chiến công của mình.
Xuân về với núi sông
Quê nhà ai ngóng trông
Thương vợ con nghèo
đói
Mừng tuổi bằng chiến công…
Tôi phải giết quân thù
Tôi đi cướp
súng giặc
Giết chết loài tham ô
Khắc sâu tên tuổi vào sông núi
Lừng lẫy công đầu Tết bốn phương…
Người lính tưởng tượng ra cảnh vợ mình nghe tin chồng thắng trận thì
vui mừng quá, máu bỗng chảy mạnh trong người, sữa bỗng đâu căng lên
đầu vú, đứa con bỗng có đủ một miếng sữa no trong ngày vui của dân
tộc này.
Dân sự truyền đi tin thắng trận/ Một chiều náo nức chợ quê hương/ Vợ
tôi ngồi trong quán/ Hiu hiu gió lạnh lùng/
Con khóc dòng sữa cạn/ Gió lùa tóc rối tung/ Bỗng có người tới bảo:/
"Chồng chị lập chiến công!"/ Mắt vợ nghèo lấp lánh/ Da xanh ửng sắc
hồng/ Nàng vuốt lại mái tóc/ Ôm chặt con trong lòng/ Ru rằng : "Xuân
toả non sông/ Cha con ăn Tết lập công/ Cho sữa mẹ chảy một dòng
nghìn thu/ Cha đem cái chết quân thù/ Làm nên sức sống bây giờ của
con"./ Như một cơn mưa sớm/
Ươm mầm non sắp thui/ Sữa căng lên đầu vú/ Máu chảy mạnh trong
người/ Vợ tôi cho con bú/ Con uống mạnh từng hơi/ Đứa bé no rồi ngủ/
Xuân thắm nồng trên môi.
Hoàng Cầm đã đem được yếu tố sinh lý vào một bài thơ yêu nước. Bài
thơ kết thúc với những câu thơ vẫn vô cùng thân yêu và đầy hào khí
như trong những bài thơ khác của Hoàng Cầm :
Đêm khuya dầm quán lạnh/ Nhớ người lập chiến công
Vợ tôi đắp vạt áo
Cho con đỡ lạnh lùng…
Đêm giao thừa đứng gác
Rền rĩ tiếng côn trùng
Tưởng chừng nghe vợ hát
Lời ru êm như
bông…
Cha con ăn Tết lập công
Cho sữa mẹ chảy một dòng nghìn thu.
Cha đem cái chết quân thù
Làm
nên sức sống bây giờ của con.
Bài thơ này cũng như các bài thơ khác của Hoàng Cầm viết ra trong
thời kháng chiến, phải được diễn ngâm thì mới thấy được giá trị đích
thực của nó. Thơ kháng chiến của Hoàng Cầm có rất nhiều tính chất
đối đáp. Tôi và Hoàng Cầm chia nhau ra để ngâm từng đoạn và vì tôi
vốn xuất thân là một ca sĩ hành nghề trong một gánh hát rong cho nên
ngoài những cách nắn nót giọng ngâm, tôi còn biết dùng điệu bộ, nét
mặt để diễn tả những bài thơ hùng tráng này. Ngay cả trong phạm vi
nhạc điệu, lối ngâm thơ của chúng tôi lúc đó cũng mới mẻ hơn lối
dùng điệu bồng mạc, sa mạc của người đi trước, do đó có tính chất
hấp dẫn hơn. Và cũng vì không khí anh hùng của người viết bài thơ,
người diễn bài thơ và người nghe bài thơ cho nên lối ngâm thơ của
chúng tôi không có một tí gì là thảm thiết, như lối kêu đường của
một số " ngâm sĩ " sau này.
Phải ghi nhận một điều rất quan trọng là tác dụng của bài thơ. Nó đã
có khả năng diệt giặc như những võ khí tối tân lúc đó là SKZ (súng
không giật) hay bazooka v.v... Trong ba lô của rất nhiều anh Vệ quốc
quân có những bài thơ chép tay của Hoàng Cầm. Cuộc kháng chiến chống
thực dân Pháp đã tạo nên những tác phẩm văn nghệ tuyệt tác như những
bản nhạc của Văn Cao, Đỗ Nhuận… và những bài thơ của Hoàng Cầm,
Quang Dũng...
Được sinh hoạt với Hoàng Cầm trong hơn một năm trời, sống trong thơ
của anh, tôi bị thơ của anh ảnh hưởng rất nhiều tới việc sáng tác,
ví dụ giai điệu của câu ngâm trong bài Tiếng hát trên sông Lô của
tôi lúc đó :
Hỡi cô con gái giặt yếm bên bờ/ Thuyền tôi đậu bến sông Lô/ Nửa đêm
nghe tiếng quân thù thở ớ than…
Chính là điệu ngâm thơ mà tôi học được ở Hoàng Cầm.
Nếu cần phải nói thêm về ảnh hưởng của Hoàng Cầm trong đời tôi thì
tôi xin kể thêm một giai thoại nữa.
Có một lần, trong chuyến đi công tác dọc tả ngạn sông Cầu, trên
đường đi, một bên là tôi, một bên là Kiều Loan, không biết từ đâu và
do cảm hứng gì, bất ngờ Hoàng Cầm cất tiếng cao giọng ''hát'' trọn
vẹn một bài thơ của thi sĩ Lưu Trọng Lư :
Ai có nghe tiếng hát chị
đò đưa
Mà không nhớ thương người quả phụ...
Nằm ấp bóng trăng thưa...
Bài thơ của Lưu Trọng Lư mà Hoàng Cầm bất chợt hát trên đường hành
quân bên bờ sông Cầu năm ấy, sau này đã ảnh hưởng tới tôi khi tôi
soạn bài Nhớ người ra đi : Ai có nghe khúc hát hành quân xa/ Mà
không nhớ thương người mẹ già/ Chờ con lúc canh khuya/ Người con đã
ra đi... vì nước...
Trong năm năm qua, từ năm 2000, tôi có dịp về thăm Hà Nội tới 10
lần, lần nào cũng tới thăm Hoàng Cầm. Năm ngoái, 2005, vì muốn hưởng
không khí Hà Nội của những ngày xa xưa, tôi quyết định ăn Tết ở phố
Lò Sũ (khi xưa là phố Hàng Dầu). Trong ba ngày Tết, tôi được sống
trong khu phố của tôi như những ngày tôi còn thơ ấu.
Viết về bài thơ Tâm sự đêm giao thừa của Hoàng Cầm, tôi ước mong vào
đúng giao thừa năm nay 2006, tâm sự của tôi được bay tới tay anh
"bạn-một-đời-người". Trong cuộc đời biết bao nguy khó, chúng ta đã
có may mắn sống cho tới ngày hôm nay. Chúc Hoàng Cầm sống lâu trăm
tuổi. Như chúng ta đã nói với nhau một lần, trong cơn bão thời đại:
Nghệ thuật đã rửa hồn chúng ta, ton art purifie ton âme và sẽ còn
giúp chúng ta sống nốt quãng đời đáng yêu, đáng sống này.

|