Về cách nói (và viết)
"Lòng quyết tâm còn cao hơn núi"
Cao
Xuân Hạo
.Nhà ngôn ngữ học.
.Dịch giả.
LTS: Nhà ngôn ngữ học, dịch giả
nổi tiếng Cao Xuân Hạo nhiều năm nay qua các công trình nghiên cứu,
các bài viết trên báo chí đã bày tỏ mối quan tâm sâu sắc, trong đó
có cả nỗi lo lắng về tình trạng nói sai và viết sai tiếng Việt.
Trong bài viết cho Lao Động Xuân, ông muốn tất cả những ai yêu tiếng
Việt phải bằng hành động cụ thể để giữ gìn sự trong sáng của tiếng
Việt với "lòng quyết tâm cao hơn núi...".
Có lẽ không mấy ai không thuộc lòng
câu hát trong bài Hò kéo pháo sáng tác từ hồi ta đánh trận Điện Biên
Phủ lẫy lừng :
Dốc núi cao cao,
Nhưng lòng quyết tâm còn cao hơn núi!
Nội dung câu hát thật là hào hùng!
Nhưng hình thức thì sao?
Có lẽ ít người để ý đến một cái lỗi ngữ pháp kếch sù mà các giáo
viên dạy tiếng Việt đã tốn không biết bao nhiêu thì giờ và công sức
để sửa mà cho đến nay hình như vẫn không phải lần nào cũng thành
công.
Đó là cái lỗi có tên là trùng ngữ, một lỗi rất nặng cả về tiếng Việt
lẫn về tư duy lôgích, làm cho người nghe (hay người đọc) thấy người
nói (hay người viết) không hiểu đúng những từ ngữ mình dùng, cho nên
nói hay viết thừa một chữ hoàn toàn vô ích và có hại. Đó là những
lỗi mà người ta phạm khi nói hay viết "rất trắng nõn", "chủ yếu
nhất", "ánh nắng mặt trời", v.v...
Một
lỗi có phần tương tự cũng đã bị dân gian chế giễu trong câu ca dao:
Nửa đêm giờ tý canh ba,
Vợ tôi con gái đàn bà nữ nhi.
Nhưng kiểu lỗi này (thường gọi là trùng ngôn - tautology) còn nhẹ
hơn rất nhiều so với trùng ngữ (pleonasm) (1), vì kiểu lỗi thứ hai
này làm cho người nghe hay người đọc thấy rõ người nói hay người
viết hoàn toàn không hiểu cái từ ngữ mà mình dùng. Chẳng hạn người
nói "rất trắng nõn" không hiểu rằng trắng nõn đã có nghĩa là "rất
trắng" rồi (2); người nói "chủ yếu nhất" hoàn toàn không hiểu rằng
"chủ yếu"đã có nghĩa là "quan trọng nhất" rồi; người nói "ánh nắng
mặt trời" không hiểu rằng ánh nắng chỉ có thể là ánh sáng trực tiếp
của mặt trời, chứ không thể có thứ ánh nắng nào khác (nếu thay mặt
trời bằng mặt trăng, sao, đèn, lửa, chớp, ai cũng sẽ thấy ngay là
hết sức vô lý) .
Nhưng có lẽ những lỗi trùng ngữ đã kể trên đây cũng dễ tránh đối với
người có trình độ trung học, hay đối với bất cứ ai có suy nghĩ một
chút trong khi nói hay viết. Những lỗi thường phạm phải trong khi
dùng những từ thường gọi là Hán-Việt (3) hình như phổ biến hơn
nhiều.
Chẳng hạn, có một số ít từ gốc Hán có trật tự ngược với trật tự bình
thường của tiếng Việt (phụ trước chính sau, trong khi tiếng Việt
quen hơn với trật tự chính trước phụ sau), trong đó từ có cương vị
trung tâm là danh từ, rất hay gây nên những lỗi trùng ngữ như lòng
quyết tâm.
Có khá nhiều người Việt không hiểu thật rõ rằng quyết tâm là một
danh ngữ có chữ tâm làm trung tâm, cho nên hay dùng nó như một vị từ
("động từ"), chẳng hạn khi lẽ ra phải nói: Tôi quyết thi đỗ, thì
người ta lại thích nói: Tôi quyết tâm thi đỗ.
Từ đó, chữ tâm dần dần mòn nghĩa rồi trở thành hoàn toàn vô nghĩa,
cho nên khi cần đến một danh từ như trong câu hát hào hùng đã dẫn ở
đầu bài, người ta "danh hoá" hai chữ quyết tâm, vốn có nghĩa là
"lòng cả quyết" bằng cách thêm một chữ lòng ở phía trước, làm thành
một trùng ngữ điển hình.
Những trường hợp dùng thừa một danh từ để tạo trung tâm cho một danh
ngữ đã có sẵn trung tâm rồi như vậy là khá phổ biến vì, do chưa quen
với trật tự phụ trước chính sau, người nói hay hiểu lầm danh ngữ
thành vị ngữ. Chỉ riêng những trường hợp phạm lỗi với chữ tâm cũng
đã khá nhiều (chẳng hạn hảo tâm có nghĩa là "lòng tốt", cho nên có
thể nói Tôi xin cảm ơn hảo tâm của các vị là được rồi, thế nhưng
người ta lại thích nói Cảm ơn lòng hảo tâm và phạm lỗi trùng ngữ chỉ
vì tưởng hảo tâm chưa có đủ tư cách của một danh ngữ.
Đối với những danh ngữ Hán - Việt có trung tâm là ý, chí, tình,
huyết cũng vậy: Người ta dễ có xu hướng thêm một danh từ ở phía
trước để có được một danh ngữ thật đầy đủ, do đó mà tạo thành những
lỗi trùng ngữ như sự nhã ý, hành động thiện chí, sự nhiệt tình, lòng
nhiệt huyết.
Nhưng ở đây, ngoài lỗi trùng ngữ ra còn có một lỗi khác nữa do không
hiểu cái thái độ khiêm tốn cố hữu của người Á Đông tôn vinh người
đối thoại với mình, trong khi bản thân mình thì tự hạ thấp bằng
những từ xấu nghĩa, cho nên dần dần chuyển thành một nghĩa khác.
Chẳng hạn chữ quý trong quý phương, quý nữ hay chữ nhã trong nhã ý,
chữ cao trong cao kiến đã trở thành một đại từ sở hữu chỉ ngôi thứ
hai (có nghĩa là"của ngài") chữ tệ trong tệ xá hay chữ hàn trong hàn
gia, chữ ý trong ngu ý đã trở thành một đại từ sở hữu dùng cho ngôi
thứ nhất ("của tôi").
Vì không hiểu những ý nghĩa phát sinh này, có khá nhiều người nói
những câu như Tôi có nhã ý mời anh chị đến dùng cơm hay Theo thiển ý
của bố tôi thì họ rất tốt đều không ổn, vì nhã ý chỉ có thể dùng cho
ngôi thứ hai ("cái ý nhã nhặn của ngài", còn thiển ý chỉ có thể dùng
cho ngôi thứ nhất, vì tôi không có quyền "khiêm tốn giùm" cho bất kỳ
ai khác).
Nhưng nó còn có hại hơn nữa cho người nghe còn ở tuổi đi học, vốn có
xu huớng bắt chước ngay những cách nói hơi lạ tai của người lớn,
nhất là thứ người lớn có uy tín, như cách nói "chí ít"(4) chẳng hạn
- dấu hiệu rõ rệt của một trình độ hiểu biết cực thấp về tiếng Việt
cũng như về tiếng "Hán-Việt" và cũng là dấu hiệu của thói a dua theo
thời thượng một cách mù quáng và thiếu thông minh.
(1). Thật ra trong nhiều trường hợp, trùng ngôn rất có ích với tính
cách là định nghĩa (tam giác là hình có ba góc) hay là lời nhắc nhở,
như câu Anh là đàn ông, sao không khiêng giúp chị ấy?
(2). Cũng như trắng bóc, trắng toát, trắng phau, trắng hếu, trắng
xoá, trắng nhỡn, trắng bệch, trắng ngần, trắng dã, tuy có những sắc
thái nghĩa và tu từ khác nhau, song đều có chung ý nghĩa "cực cấp"
tuyệt đối (hay "tối cao") như nhau, cho nên không thể thêm rất, lắm,
nhất mà cũng không thể thêm hơi, khá, hay hơn, kém, không bằng.
Trong trường hợp thứ nhất, ta có những lỗi trùng ngữ; còn trong mấy
trường hợp sau, ta lâm vào tình trạng mâu thuẫn nội tại.
(3). Thuật ngữ "Hán-Việt" rất hay bị hiểu lầm là chỉ những từ tiếng
Hán được đưa vào câu tiếng Việt, được quan niệm như đối lập với
những "từ thuần Việt" hay "chữ Nôm". Thật ra đó hầu hết là những từ
Thái hay Môn-Khmer. Trong tiếng Việt hiện đại, không có từ nào có
thể coi là gốc thuần tuý Việt Nam".
Phải nhấn mạnh rằng từ Hán-Việt, tuy có nguồn gốc Hán, nhưng từ hàng
ngàn năm đã được đồng hoá hoàn toàn và trở thành tiếng thuần Việt,
vì đều được người Việt hiểu rõ nếu đủ thông dụng, trong khi người
Trung Quốc chưa học tiếng Việt thì không thể hiểu được. Trong dân
gian, từ "Hán-Việt" thường được gọi là chữ Nho để phân biệt với chữ
Nôm . Cách gọi này cho thấy rằng người Việt không quan niệm từ
Hán-Việt như một cái gì của nước ngoài. Chữ Nho được trọng vọng hơn
chữ Nôm ("Nôm na mách qué"), với điều kiện là biết tránh lạm dụng,
vì "Xấu hay làm tốt, dốt hay nói chữ". Dốt mà hay nói chữ thì có
nguy cơ rơi vào những cái lỗi đáng buồn như ánh nắng mặt trời hay
chí ít chẳng hạn.
(4). Người tử tế đều biết rằng tiếng Việt đã có sẵn hai cách nói
đúng đắn hơn nhiều là ít ra (cũng) và ít nhất, và mặt khác, dù không
biết chữ Nho, cũng hiểu rằng chí có nghĩa là "rất" (như trong chí
hiếu, chí tôn, chí phải chứ không bao giờ có nghĩa là "nhất" như
trong cách nói chí ít.
|
Có những sai sót tưởng chừng như vô
hại trong câu nói hay câu văn, thật ra có thể rất có hại, trước
hết là cho người nói hay người viết. Nó cho thấy một trình độ
hiểu biết rất thấp về tiếng mẹ đẻ và về cách tư duy, khiến người
nghe hay người đọc khó lòng có thể không cười thầm. |

|