Đêm giao thừa kỳ lạ
Hồi ức về những phóng viên
chiến trường
Nhà
văn Lâm Quang Ngọc
Máy ghi âm bắt đầu phát bản nhạc truy
điệu và chúng tôi đều cúi đầu cố nén tiếng nức nở, thì ngoài lán
bỗng vang lên một giọng nói hết sức trẻ trung: "Các anh chị ơi, đừng
truy điệu em vội. Em đã về đây này".
Có thể nói năm 1970 được coi là năm ác
liệt nhất ở chiến trường khu 5 về đủ mọi phương diện. Ác liệt về
những trận đánh liên miên ở khắp các nơi và ác liệt về bệnh tật, tai
nạn và đói khát trong các đơn vị quân giải phóng. Đó là năm ở mặt
trận khu 5 có những đơn vị chết do bệnh tật, do bị nước lũ và do đói
còn nhiều hơn cả chết trận. Trong những năm ấy, đội ngũ làm văn nghệ
trong chiến tranh như báo chí, điện ảnh, văn thơ và hội hoạ thường
không năm nào không có vài người hy sinh khi mang giấy bút, máy ảnh
hoặc máy quay phim tham gia các chiến dịch.
Đã thành thói quen, chúng tôi thường tiễn các phóng viên quay phim
ra đến tận cửa rừng, bởi một chuyến đi của phóng viên quay phim thời
ấy thường kéo dài rất lâu, có khi 6 tháng hoặc một năm mới trở về và
cũng có khi không bao giờ trở về nữa.
Chuyến tiễn đưa hai phóng viên Nguyễn Văn Giá và Phạm Ngọc Chưng là
lần tiễn đưa tưởng như ngắn nhất, mà hoá ra lại dài nhất. Anh Giá và
anh Chưng đi mặt trận Quảng Ngãi, chỉ cách căn cứ địa Trà My hơn
mười ngày đi bộ, nên chúng tôi đều đinh ninh rằng tổ quay phim đi
mặt trận Quảng Ngãi sẽ là tổ hoàn thành nhiệm vụ và trở về sớm nhất.
Nhưng thực tế lại không diễn ra như vậy.
 |
Nguyễn Văn Giá (trái)
và đồng đội tại chiến trường khu 5.
Ảnh: Tư liệu Lao Động. |
Bước sang năm 1970 là thời kỳ quân Mỹ,
ngụy được viện trợ đến tối đa về hoả lực và đã chủ động càn quét ở
mọi chiến trường. Tổ quay phim của anh Giá và anh Chưng đang hoạt
động ở xã Phổ Cường - thuộc tỉnh Quảng Ngãi thì bị trực thăng chụp
xuống vây bắt. Anh Giá bị bắn chết khi đang rút lui lên núi cùng vài
du kích, còn anh Chưng thì được ghi nhận là mất tích vì không tìm
thấy xác.
Ở căn cứ Trà My năm ấy, cơ quan Điện ảnh khu 5 vừa phải chịu đựng
những gian khổ chưa từng thấy về thiếu ăn và thiếu thuốc men, vừa
chịu tổn thất lớn lao về việc cả một tổ quay phim ở chiến trường
Quảng Ngãi đều hy sinh trong khi làm nhiệm vụ. Vào giữa năm 1970,
sau khi đã xác nhận mọi nguồn tin từ mặt trận đưa về, chúng tôi đã
quyết định tổ chức truy điệu cho anh Giá tại căn cứ Trà My. Nhưng về
trường hợp mất tích của anh Chưng thì tất cả đều khắc khoải chờ đợi
ngày này qua tháng khác, tháng này qua tháng khác với niềm hy vọng
cứ mỗi ngày lại trở nên tuyệt vọng rằng anh Chưng chỉ bị mất liên
lạc chứ không đến nỗi bị hy sinh.
Những nguồn tin về anh Chưng đều rất sơ sài và mơ hồ. Theo bà con xã
Phổ Cường kể lại, thì khi bị cả bầy trực thăng chụp xuống, bà con đã
bảo nhau chạy túa hết ra cánh đồng để tạo điều kiện giải thoát cho
các cán bộ và chiến sĩ. Trường hợp anh Giá và vài du kích, vì tách
khỏi đám đông nên đã bị sát hại, còn anh Chưng chạy lẫn vào đám dân
chúng rồi cũng mất tích luôn. Có thể anh Chưng đã bị địch bắn hạ ở
đâu đó, cũng có thể anh thoát vào rừng nhưng không được tiếp tế, nên
đã chết đói ở một nơi nào đó giữa rừng núi hiểm trở?
Ở cơ quan, chúng tôi đã khắc khoải đợi tin suốt cả năm cho tới những
ngày chuẩn bị đón giao thừa.
Gần tới ngày Tết ở chiến khu năm ấy, cơ quan Điện ảnh khu 5 lại gặp
chuyện may mắn không ngờ. Số là trong chuồng chăn nuôi của cơ quan
đã dự trữ sẵn một chị heo khá to để chuẩn bị cho cơ quan ăn Tết.
Bỗng nhiên một hôm, tổ bảo vệ cơ quan phát hiện có một con heo rừng
thậm thụt tới ve vãn chị heo nhà và đã bỏ chạy rất nhanh khi thấy
hơi người. Việc này được bàn luận khá nghiêm chỉnh trong ban lãnh
đạo, đi đến quyết định sẽ tổ chức mai phục để bắn bằng được con heo
rừng dại gái kia, ngõ hầu kiếm cho anh em trong cơ quan một cái Tết
với gấp đôi khẩu phần thịt.
Suốt hai tuần cuối cùng của năm cũ, toàn bộ súng trường và súng AK
của cơ quan được giao cho tổ săn thay nhau mai phục 24/24 giờ quanh
chuồng heo nhà. Tất cả mọi người trong cơ quan được căn dặn phải giữ
yên lặng để khỏi kinh động tới thú rừng.
Rồi tiếng súng cuối cùng cũng vang lên vào đêm 28 Tết. Nghe tiếng
súng, tất cả mọi người ở trong các lán trại đều nhảy cả lên và tiếng
reo hò của hơn một trăm con người đói khát có lẽ còn rạo rực hơn bất
kể buổi dạ tiệc nào thường tổ chức vào những năm phát đạt của cơ chế
thị trường.
Gần một trăm con người đói khát ở cơ quan Điện ảnh khu 5 đứng vòng
trong vòng ngoài, nhìn con heo rừng nặng tới gần một tạ bị bắn hạ,
không một chút thương cảm, chỉ thấy một niềm vui rạo rực khó diễn
tả, không phải toát ra từ con tim, mà chính là từ cái dạ dày trống
rỗng cả năm trời.
Nhưng khi niềm vui đã lắng lại, chúng tôi bỗng lặng người đi khi nhớ
tới những tổ phóng viên mặt trận còn đang ở phía trước. Các anh sẽ
đón Tết ra sao ở những đơn vị đã mệt mỏi và kiệt quệ sau những trận
đánh ác liệt. Các anh sẽ đón xuân ra sao với bà con các vùng giải
phóng đã bị địch chà đi xát lại nhiều lần?
Và chúng tôi đều rưng rưng nước mắt khi nghĩ về hai phóng viên quay
phim Nguyễn Văn Giá và Phạm Ngọc Chưng. Anh Giá đã được đồng bào
chôn cất chu đáo bên rìa núi, còn anh Chưng nằm lại ở đâu? Ở ngách
hang nào, khe suối nào? Liệu thú rừng có tha mất thi thể của anh
không?
Chiều hôm ấy, ban lãnh đạo Điện ảnh khu 5 họp bàn ra quyết định sẽ
tổ chức truy điệu anh Chưng trước giờ giao thừa để anh em có thể
thanh thản đón mừng năm mới ở chiến khu. Đây có lẽ là lễ truy điệu
duy nhất ở chiến khu có bày cỗ bàn, chứ không phải chỉ có cờ và hàng
chữ "Tổ quốc ghi công" như mọi cuộc truy điệu khác.
Chúng tôi xả thịt con heo rừng và chọn một mâm cỗ đầy nhất bày trước
chân dung của anh Chưng. Anh em trong cơ quan đứng lặng trước khẩu
phần thịt heo rừng đã được chia rất tỉ mỉ và công bằng, rồi nhìn đăm
đăm vào chân dung nhà quay phim còn phơi phới tuổi thanh xuân. Không
hiểu sao lúc ấy, chúng tôi tuyệt nhiên không cảm thấy sự thôi thúc
của những cái dạ dày tội nghiệp, nên không ai nghĩ những giây phút
tưởng niệm đã kéo dài quá lâu.
Đến lúc những bó nhang đã cháy hết một nửa thì anh Trần Đống - người
phụ trách Điện ảnh khu 5 - mới nghẹn ngào nói: "Hôm nay, toàn thể
anh chị em của cơ quan Điện ảnh khu 5 đã có mặt đông đủ trước chân
dung đồng chí để tỏ lòng vô cùng thương tiếc một đồng chí thân yêu
của chúng ta đã hy sinh vào lúc tuổi đời còn non trẻ. Chúng ta xin
dành thêm một phút mặc niệm để vĩnh biệt đồng chí thân yêu...".
Máy ghi âm bắt đầu phát bản nhạc truy điệu và chúng tôi đều cúi đầu
cố nén tiếng nức nở, thì ngoài lán bỗng vang lên một giọng nói hết
sức trẻ trung: "Các anh chị ơi, đừng truy điệu em vội. Em đã về đây
này".
Như một phép thần tiên, anh Chưng hiện ra trước chúng tôi với gương
mặt xanh lét, nhưng nụ cười thì thật rạng rỡ. Chúng tôi ùa tới,
người xoa đầu, người sờ tay, người nắm chân. Sau giây phút bàng
hoàng đó, chúng tôi mới nhận ra anh Chưng cầm trong tay một cành mai
rừng đang đâm chồi nảy lộc. Chưng nói: "Các anh các chị ơi, kiếm cho
em cái gì để cắm hoa mừng xuân chứ".
Sau này, anh Chưng kể chuyện lạc rừng nghe cứ như chuyện bịa. Thì ra
được dân che chở nên Chưng đã chạy thoát vào rừng, nhưng bà con lại
bị địch gom sạch để lập ấp chiến lược nên Chưng hoàn toàn mất liên
lạc. Chưng đã nhịn đói nhịn khát, lần mò trong rừng sâu để tìm về
chiến khu, nhưng do mất phương hướng nên trong 6 tháng trời, anh đã
lưu lạc tới tận Tây Nguyên, rồi từ Tây Nguyên lại lần mò trở về căn
cứ đúng hôm 30 Tết, nói chính xác là trước giờ giao thừa.
|