Quán trà Lão Xá
NSND
Đào Trọng Khánh
Có lần tôi cùng bạn Nguyễn An Định -
cây bút bình luận của Báo Lao Động - đi lấy thuốc của ông lang
Phượng ở Nho Quan (Ninh Bình). Trên đường về qua Đồng Văn ghé thăm
quán trà của cụ Trưởng An thân sinh ra Nguyễn An Định. Nhà Định có
nghề ướp trà sen lâu đời, mùa hè năm nào đến chơi cũng thấy chị
Quỳnh - vợ Định, ngồi cùng các cháu bên những chiếc nong to chất đầy
hoa sen ngào ngạt, tách lấy nhụy hương ướp trà.
Cụ Trưởng An năm nay đã gần trăm tuổi, người nhỏ bé, râu trê hóm
hỉnh, thời còn trẻ đã từng phiêu bạt nhiều nơi, về già mới về mở
quán trà. Nhân bàn đến chuyện những người bị bắt đi đầy sang Trung
Quốc, ông cụ kể rằng: Mấy chục năm trước có qua Nam Kinh nghe nói ở
quanh vùng có một ngôi làng toàn người Việt ở. Bà con nói tiếng
Việt, ăn mặc, sinh hoạt như người Việt từ mấy trăm năm trước. Không
lẽ họ là con cháu những người Việt bị quân Minh bắt sang từ thời nhà
Hồ, còn sống tụ lại với nhau đến bây giờ vẫn không quên nguồn gốc
cũ? Ông cụ cố ý hỏi thăm nhưng không ai biết ngôi làng đó ở chỗ nào.
Chuyến
sang Trung Quốc của tôi làm tư liệu thực tình là khó khăn quá, lịch
sử mỗi nước quan điểm mỗi khác, việc hội thảo không thành. Dấu tích
lịch sử của nước ta ở Trung Quốc không nhiều. Nhưng các bạn Trung
Quốc thì rất thông cảm và nhiệt tình, hướng dẫn đoàn phim đi khắp
nơi...
Thành phố Nam Kinh hiện đại ngày nay trên cao nhìn xuống vun vút
những nhà cao tầng, xưa kia là kinh đô cũ của triều Minh. Các cụ ta
bị bắt đi đầy ở Kim Lăng, trong đó có cả cụ Nguyễn Phi Khanh thân
sinh ra nhà thơ Nguyễn Trãi. Nay ở khu phố cổ còn có một tửu lầu lấy
tên là "Quán Kim Lăng" đã lâu đời. Không biết các quan của ta đi sứ
Trung Hoa, có đoàn sứ thần nào nghỉ trọ ở cái quán cổ này không?
Lá phong đỏ rơi xuống hai hàng tượng đá đứng chầu trên lối đi vào
Kim Lăng. Lại nhớ tới những nhân tài nổi tiếng của nước Nam xưa cũng
bị đưa về giam lỏng, trong đó có ông Hoàng Giáp lương y Tuệ Tĩnh,
ông thầy thuốc nổi tiếng ở Thăng Long từng biên soạn bộ sách thuốc
đồ sộ "Nam dược thần hiệu", bị Vua Minh bắt, đưa về làm quan Thái y
trong triều, suốt đời không cho về nước. Tương truyền mộ ông để ở
Hàng Châu, bia mộ có đề mấy lời dối dăng của ông: "Ai có về nước Nam
xin đem nắm xương tàn của tôi về với!". Tôi có đến Hàng Châu tìm mộ,
chỉ thấy trời mây man mác, trùng trùng liễu đổ xuống hồ, không ai
biết mộ ông lương y Hoàng Giáp ở chỗ nào?
Trong
số những con người tài hoa phiêu dạt thời ấy, còn có ông Nguyễn An -
một kiến trúc sư tài năng của nước Nam, bị Vua Minh bắt đưa về xây
dựng cố cung ở Bắc Kinh từ 1403 đến 1424 mới hoàn thành. Trải qua
hơn 5 thế kỷ, lịch sử thăng trầm đã nhiều biến đổi, riêng cố cung
vẫn giữ được vẻ đẹp nguy nga tráng lệ như mấy trăm năm trước.
Người bạn Trung Quốc ở Xưởng phim Tài liệu Bắc Kinh dẫn đường vỗ vào
thân cây cột nói rằng: "Những thân gỗ lớn này phần nhiều là gỗ ở
nước Nam đưa sang". Trò chuyện thêm về kiến trúc sư Nguyễn An, bạn
cho biết: Ông không những có tài về thiết kế mà còn giỏi cả về quản
lý xây dựng những công trình quy mô hoành tráng, người Trung Hoa rất
kính trọng viết nhiều cuốn sách về tài năng, sự nghiệp của ông.
Nguyễn An cũng để lại một bộ sách về nghệ thuật kiến trúc, bộ "Doanh
tạo ký". Suốt đời, Nguyễn An cũng phải sống ở Trung Hoa, không được
về nước.
Thuở ấy ở nước Nam, trung tâm hồn nước vẫn là Thăng Long, nhiều cuộc
khởi nghĩa nổ ra, những ngọn gió của tinh thần yêu nước từ bốn
phương thổi về Thăng Long - Đông Quan làm thức dậy tinh thần Đại
Việt. Ngọn gió Lam Sơn làm nên cuộc kháng chiến 10 năm chiến thắng
quân Minh của Bình Định Vương Lê Lợi.
Nguyễn Trãi lại là linh hồn của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn. "Bình Ngô
Đại Cáo" của Nguyễn Trãi là bản thiên cổ hùng văn được muôn người ca
ngợi. Nhưng thương thay số phận nhà thơ lại vô cùng bi thảm. Tháng 9
năm 1442, vợ chồng ông bị gian thần hãm hại, vu cho tội giết vua, bị
tàn sát cả ba họ gia đình nội ngoại. Mãi 22 năm sau, vào năm Quang
Thuận thứ năm - 1464, Nguyễn Trãi mới được Vua Lê Thánh Tông xuống
chiếu minh oan: "Ức Trai tâm thượng quang khuê tảo" (Ức Trai lòng dạ
sáng như sao Khuê).
Năm,
sáu trăm năm trôi qua, trải bao biến đổi, những chuyện oan khuất đau
buồn chưa bao giờ hết. Một chiều bên bờ Tây Hồ Thái Bình ở Bắc Kinh,
nhóm quay phim chúng tôi đứng xem các cụ già Trung Quốc đánh cờ.
Quân cờ to tướng bằng gỗ du, bàn cờ vẽ trên đất. Được thua, thắng
bại các cụ đều nhảy múa reo hò, chẳng ai chạnh lòng nhớ đến chuyện
chiến tranh thua được trên bàn cờ chính trị mấy trăm năm trước: "Hồi
ức can qua kim cổ hận/ Tượng kỳ đắc thất ý duy dân" (Chuyện chiến
tranh hay nỗi hận muôn đời như bàn cờ thế sự, được thua thành bại
cũng do ở lòng dân). Người bạn dẫn đường khẽ bảo tôi: "Cuối năm 1966
đại cách mạng văn hoá, người ta thấy nhà văn Lão Xá - một trong
những nhà văn hoá lớn nhất của Trung Quốc, mình đầy thương tích, nằm
chết ở đây".
Mặt trời sa xuống hàng cây ven hồ, chìm vào màn đêm buồn bã, cố nhà
văn lão thành Ba Kim - nguyên Chủ tịch Hội Nhà văn Trung Quốc nói:
"Lão Xá là một nhà yêu nước vĩ đại. Sau khi cả nước Trung Hoa được
giải phóng ông đã từ nước ngoài trở về, tham gia xây dựng XHCN của
tổ quốc. Ông là một tấm gương lao động viết lách chuyên cần nhất,
ông là "Phái ca ngợi" nhiệt tình ca ngợi nước Trung Quốc mới dùng
nghệ thuật phục vụ chính trị có thành tích nhất. Tác phẩm của ông đủ
loại tiểu thuyết thơ, kịch nói, kinh kịch... đều có tác dụng giáo
dục rất lớn. Vở kịch "Cống Long tu", tiểu thuyết "Tường Lạc Đà" được
đánh giá rất cao. Chính quyền thành phố Bắc Kinh đã tặng ông danh
hiệu "Nhà nghệ sĩ nhân dân".
Vậy mà bỗng nhiên ông bị đánh đập, nhục mạ trở thành đối tượng của
đại cách mạng văn hoá, chỉ một ngày, thành cái xác không hồn, đắp
manh chiếu rách nằm chết ở bờ Tây Hồ Thái Bình. Hỡi ôi, tại sao lại
đến nông nỗi ấy?". Từ khi ông mất, cuối năm 1966, mãi đến năm 1986
Lão Xá mới được minh oan. Giống như nhà thơ Nguyễn Trãi thời xưa,
cũng phải hơn 20 năm mới giải được nỗi niềm oan khuất. Hôm đặt hòm
tro hài cốt của ông ở lễ đường nghĩa trang Bát Bảo Sơn Bắc Kinh, ông
già Ba Kim đã khóc: "Bao thế kỷ qua rồi mà thiên hạ còn nhiều người
oan ức quá! Xin hãy quan tâm đến họ, đừng để đến khi quá muộn!".
Ở Xưởng phim Tư liệu Bắc Kinh, tôi được xem một đoạn phim thời sự có
cảnh Lão Xá trên Chủ tịch đoàn ở Nhân dân đại lễ đường ngày 10 tháng
7 năm 1966. Hình ảnh ông dẫn đầu đoàn tuần hành của nhân dân Bắc
Kinh ủng hộ cuộc đấu tranh chống Mỹ của nhân dân VN vẫn còn ám ảnh
tôi. Ông thực sự là một nhà văn hoá lớn tiêu biểu cho tầng lớp ưu tú
của trí thức Trung Quốc hiện đại đấu tranh cho hoà bình và tình hữu
nghị giữa các dân tộc. Năm 1957, ông viết một trong những tác phẩm
hay nhất của ông là vở kịch "Quán Trà". Đó là cuộc sống chân thực và
ý nghĩa cuộc đời cười ra nước mắt của con người được diễn ra trên
sân khấu. Khi ông qua đời, bạn bè và bà con thân thiết chung nhau mở
một quán trà mang tên Lão Xá để tưởng nhớ cuộc đời và lý tưởng của
ông.
Bà Tôn Sĩ Tuần con gái Giáo sư tâm lý học Trung Quốc Tôn Quốc Hoa,
bạn láng giềng của gia đình Lão Xá ở cư xá Đại học Thanh Hoa, hướng
dẫn chúng tôi đến thăm quán trà Lão Xá, nay là một trong những địa
chỉ văn hoá ở Bắc Kinh. Dưới ánh sáng mờ ảo của quán trà, trong
tiếng chiêng trống giáo đầu rộn ràng của màn ca kịch dân gian, chúng
tôi ngồi cùng bạn bè du khách các nước trên thế giới: Người Mỹ,
người Anh, người Pháp, người Nga, người Trung Hoa, người Hàn Quốc...
quanh các bàn trà, thưởng thức bánh hoa cúc với trà nóng đựng trong
những chén cổ bằng sứ nhẹ bỗng tưởng như không chứa đựng nước trà mà
chỉ đựng một làn hương mơ hồ thoang thoảng. Ánh sáng loang loáng đổi
màu,dàn nhạc cất lên dồn dập, tất cả chúng tôi, không phân biệt màu
da, tiếng nói, vỗ tay hoà cùng nhau một bài ca thân ái xung quanh
bàn trà. Về nhà tôi đã dựng cảnh này trong đoạn kết của bộ phim:
"Ngọn gió Lam Sơn", cảm thông với tấm lòng Lão Xá và cũng là một
hình ảnh thể hiện tư tưởng nhân ái sâu sắc của thi hào Nguyễn Trãi
từ mấy trăm năm trước: "Hoà bình là gốc của nhạc!".
Người Trung Quốc hay nói: "Người đi trà cũng nguội", Chu Thượng -
Nguyễn An Định đi quá nhanh tưởng như câu chuyện tâm sự chưa tàn một
ấm trà! Tết năm nay tôi viết "Quán trà Lão Xá" để kể anh nghe tôi đã
nghĩ như thế nào về "Những vết roi trong tâm tưởng" (lấy ý từ tên
tập sách "Chiếc roi trong tâm tưởng" của Chu Thượng) và về tình hữu
nghị, giao lưu văn hoá giữa hai dân tộc Việt - Trung, qua những
thăng trầm lịch sử. Trà sư Nhật Bản Furuta Oribê thế kỷ 17 tiên đoán
rằng: "Có một ngày, mọi người hiểu nhau hơn và nhân loại sẽ cùng gặp
nhau bên một chén trà. Hỡi An Định, biết đâu một ngày nào đó, trên
đường về Lam Sơn, những bạn bè trên thế gian này lại chẳng dừng chân
ở Đồng Văn, trong quán trà của cụ Trưởng An nhà mình, nơi ngày xưa
Chu Văn và Tào Mạt hay ngồi, như họ đã dừng chân ở quán trà Lão Xá,
quanh một bàn trà, cùng vỗ tay hát với nhau một bài ca về hoà bình,
hữu nghị và lòng nhân ái tha thiết, thấm đượm tình người trong cõi
bình an.
Người bạn dẫn đường khẽ bảo tôi: "Cuối năm 1966 đại cách mạng văn
hoá, người ta thấy nhà văn Lão Xá - một trong những nhà văn hoá lớn
nhất của Trung Quốc, mình đầy thương tích, nằm chết ở đây".
|