|
V́ sao học sinh tiểu học giảm?
Một hiện tượng giáo dục đáng chú ư tại Việt Nam là tổng số học sinh tiểu học giảm liên tục từ năm 1997 đến nay. Căn cứ theo số liệu chính thức, số giảm này càng lúc càng tăng, vừa tuyệt đối, vừa tương đối.
Riêng trong năm 2004, số học sinh tiểu học giảm hơn 600 ngàn so với năm trước - một mức đáng báo động. Theo cách phân tích thống kê, tỉ lệ dân số ở mức tuổi đi học tiểu học chỉ có thể giảm cao nhất là 16%.
Thống kê cho thấy, từ năm 1997 đến năm 2004, học sinh tiểu học giảm mạnh hơn nhiều so với tỉ lệ giảm dân số trong mức tuổi 5-9 tuổi và 10-14. Trong thời gian trên, dân số từ 5-9 tuổi giảm 16% (chỉ số giảm từ 100 xuống 84), dân số 10-14 tuổi giảm 2% (chỉ số giảm từ 100 xuống 98), nhưng số học sinh tiểu học giảm 25% (chỉ số giảm từ 100 xuống 75).
Giả dụ, chúng ta lấy độ giảm dân số tối đa 16% th́ so với độ giảm học sinh là 25%, vẫn có đến 9% khác biệt. Sự khác biệt này cho thấy, có hiện tượng bỏ học hoặc không đi học từ năm 1997. Như vậy, trong số học sinh tiểu học giảm đi là 2,6 triệu từ năm 1997 đến 2004, có thể tính là cao nhất có 1,7 triệu là do giảm dân số ở mức tuổi đi học tiểu học (lấy 16% là tỉ lệ cao nhất có khả năng xảy ra). Như thế phần c̣n lại - ít nhất là 0,95 triệu trẻ em - là do bỏ hoặc không đi học, tức là trung b́nh trên 100 ngàn học sinh một năm.
Nói tóm lại, đă có hiện tượng một số đáng kể trẻ em trong độ tuổi đi học tiểu học không đến trường và bỏ học. Con số này ngày càng tăng. Chúng tôi chưa biết tại sao trẻ em không đi học hay bỏ học? Cần có các cuộc điều tra nghiên cứu nghiêm túc mới trả lời câu hỏi này một cách thoả đáng. Nếu các em bỏ học v́ gia đ́nh không đủ tiền trả học phí, th́ đây là vấn đề công b́nh xă hội rất đáng quan tâm. Dù sao đi chăng nữa, hiện tượng tiêu cực này đi ngược với tinh thần Luật Giáo dục tiểu học phổ thông 1999 của Nhà nước ta, trong đó xác nhận trách nhiệm của Nhà nước trong việc cung cấp giáo dục tiểu học miễn phí và phổ cập giáo dục bắt buộc cho tất cả trẻ em Việt Nam.
Một vấn đề nữa cũng cần để ư là, theo kinh nghiệm giảm sinh đẻ những năm qua, dân số trẻ sẽ tiếp tục giảm đến ít nhất là tới năm 2010. Do đó, cần có thống kê chi tiết về dân số trong độ tuổi đi học phù hợp, để có chính sách chi tiêu đúng đắn về giáo dục tiểu học. Số nhà trường xây dựng thêm và nhu cầu về thầy giáo sẽ giảm. Đây là điều cần thiết phải làm. Vấn đề của giáo dục ở cấp tiểu học là tăng chất lượng, chứ không c̣n là tăng số lượng, mặc dù cần có chính sách về học phí phù hợp, để học sinh có khả năng đến trường.
|
Số học sinh tiểu học Việt Nam, 1997-2004 |
|
Năm |
Tổng số (1.000) |
Số giảm so với năm trước (1.000) |
Tỉ lệ giảm so với năm trước (%) |
|
1997 |
10.384 |
|
|
|
1998 |
10.224 |
160 |
1,5 |
|
1999 |
10.063 |
161 |
1,6 |
|
2000 |
9.741 |
322 |
3,2 |
|
2001 |
9.315 |
426 |
4,4 |
|
2002 |
8.816 |
499 |
5,4 |
|
2003 |
8.346 |
470 |
5,3 |
|
2004 |
7.745 |
601 |
7,2 |
|
Nguồn: Tổng cục Thống kê: Niên giám Thống kê nhiều năm khác nhau) | Vũ Quang Việt - chuyên viên cao cấp về thống kê kinh tế của LHQ (Mỹ) - Trần Nam B́nh - PGS kinh tế, Đại học New South Wales (Úc) |