|
Thuốc điều trị bệnh viêm khớp dạng thấp
Viêm khớp dạng thấp (VKDT) là bệnh thường gặp, tỷ lệ mắc bệnh trên thế giới từ 0,5 - 3%. Ở nước ta, VKDT chiếm 0,5% trong nhân dân và 20% số bệnh nhân mắc bệnh khớp nằm điều trị ở bệnh viện.
VKDT là bệnh khớp viêm mạn tính, có biểu hiện lâm sàng cơ bản là viêm đa khớp có khuyết xương, phá hủy khớp, tiến triển dẫn tới teo cơ, biến dạng khớp và dính khớp. Bệnh chủ yếu gặp ở nữ giới, tuổi trung niên.
Nguyên tắc điều trị VKDT - Sử dụng ngay từ đầu các thuốc có thể ngăn chặn được sự hủy hoại xương, sụn. Các thuốc chống viêm bao gồm nhóm không chứa steroid và corticoid được sử dụng kết hợp, trong có corticoid được sử dụng sớm và ngắn ngày. Người ta bắt đầu sử dụng các thuốc chống viêm không steroid ức chế chọn lọc COX-2 (một men cảm ứng, xúc tác quá tŕnh viêm khớp). Thuốc đặc biệt được chỉ định với các đối tượng có nguy cơ cao, đặc biệt các bệnh nhân có tổn thương dạ dày - tá tràng. Hiện có các loại thuốc chống viêm ức chế chọn lọc COX-2 trên thị trường: mobic, nise, vioxx, celebrex.
- Điều trị triệu chứng đồng thời với điều trị cơ bản. Về điều trị cơ bản xu hướng hiện nay sử dụng kéo dài các thuốc chống thấp khớp tác dụng chậm có thể thay đổi cơ địa bệnh. Nhóm thuốc này có vai tṛ quan trọng, được chỉ định ngay từ đầu, dù bệnh ở giai đoạn nào.
- Ngoài ra cũng cần điều trị tại chỗ bằng tiêm cortison tại khớp bằng depomedrol hoặc diprospan. Bơm rửa ổ khớp kết hợp với tiêm depo - medrol và cyclophos-phamid trong ổ khớp ở bệnh nhân VKDT có tràn dịch khớp gối, có tác dụng giảm đau, giảm sưng, tăng phạm vi cử động khớp, giảm tiết dịch khớp một cách rơ ràng. Người ta cũng áp dụng phương pháp cắt bỏ màng hoạt dịch bằng ngoại khoa (mổ hoặc cắt dưới nội soi) hay bằng tia xạ hoặc hóa chất như acid osmic.
Ở nước ta c̣n có nhiều phương pháp điều trị khác như xoa bóp bấm huyệt, dùng thuốc đông y, châm cứu, trong đó có điện châm. Điện châm có tác dụng trong điều trị bệnh viêm khớp dạng thấp ở thời kỳ lui bệnh và viêm nhẹ ở giai đoạn 1 và 2 tỷ lệ tốt và khá đạt 80%. Đối với giai đoạn tiến triển có viêm nhiều khớp và sốt, phụ thuộc corticoid th́ điện châm ít có tác dụng và phải phối hợp với phương pháp dùng thuốc. Như vậy có thể áp dụng phương pháp điện châm trong điều trị bệnh VKDT giai đoạn sớm, thời kỳ viêm khớp nhẹ, nhất là đối với bệnh nhân có tiền sử hoặc hiện tại có viêm loét hành tá tràng... để tránh phải dùng thuốc chống viêm.
Điều trị cơ bản Từ đầu thập niên 80, khi các corticoid ngày càng gây nên nhiều tác dụng phụ nguy hại mà hiệu quả điều trị lại chỉ có giới hạn, th́ các thuốc chống thấp khớp tác dụng chậm như methotrexat cyclophosphamid, cyclosporin, muối vàng, chloroquin và salazopyrin ngày càng tiến tới vị trí hàng đầu trong điều trị bệnh VKDT. Trong thời gian chờ đợi tác dụng của thuốc điều trị cơ bản, các thuốc điều trị triệu chứng được sử dụng phối hợp. Các thuốc này sẽ được giảm dần liều và có thể cắt hẳn khi thuốc điều trị cơ bản bắt đầu có tác dụng.
Các thuốc hiện được ưu tiên sử dụng là: - Thuốc chống sốt rét tổng hợp là chloroquin (nivaquin) và hydroxychloroquin (plaquénil). Một điểm lưu ư là khi dùng thuốc này cần khám mắt sau 6 tháng đến một năm dùng thuốc. Nếu phát hiện thấy tổn thương viêm tổ chức lưới ở vơng mạc do thuốc, gây giảm thị lực, lóa mắt, rối loạn nh́n màu sắc... th́ cần phải dừng thuốc.
- Methotrexat liều nhỏ: từ 7,5 đến 15mg mỗi tuần. Đây là thuốc có hiệu quả, khá an toàn trên đường tiêu hóa nên hiện nay được sử dụng rộng răi trên thế giới, đặc biệt là các nước đang phát triển. Hiện có xu hướng kết hợp nhiều thuốc trong nhóm: methotrexat + chloroquin.
- Sulfasalazin (salazopyrin). salazopyrin là sản phẩm liên kết giữa 5-aminosalysilic và sulfapyrindin. Salazopyrin có tác dụng chống viêm và tác động lên cả hệ thống miễn dịch, do vậy được sử dụng trong điều trị VKDT và các bệnh viêm khớp khác. Thuốc chống chỉ định với các bệnh nhân có suy gan, thận nặng.
Các phương pháp mới điều trị sinh học bệnh VKDT Các thuốc điều trị VKDT cổ điển là các thuốc có tác dụng chống viêm như corticoid, azothiopirin, muối vàng, hydroxychloroquin, cychlophosphamit, methotrexat và một số thuốc khác. Nhưng các thuốc này lại chỉ kiểm soát được một số t́nh trạng viêm, kém hiệu quả và nhiều tác dụng phụ trong các trường hợp nặng.
Hiện nay, sự xuất hiện liệu pháp điều trị bằng anticytokin đă mở ra một hướng điều trị mới cho bệnh nhân VKDT và bệnh nhân mắc một số bệnh khớp khác. Các nghiên cứu gần đây đă đánh giá cao khả năng của thuốc kháng cytokin (anticytokin) trong kiểm soát viêm và bảo vệ khớp. Các thuốc kháng cytokin cũng có hiệu quả điều trị cao khi điều trị riêng biệt hoặc khi phối hợp với thuốc methotrexat. Liệu pháp điều trị bằng kháng cytokin sẽ được phát triển và phổ biến rộng răi trong thời gian tới. Người ta cũng đang thử nghiệm các liệu pháp chuyển ghép gen, điều trị tế bào dùng tế bào gốc tự thân của tủy xương mà sau này biệt hóa thành các tế bào sụn hay xương nhờ có yếu tố tăng trưởng, có thể kết hợp với điều trị gen.
(Theo SK&ĐS) |